Xuân trong Đạo, mùa Xuân miên viễn
Thích Phước Toàn
Với dòng quỹ tích luân lưu bốn mùa thì Xuân chẳng có gì là lạ, nhưng khi nhân loại nhắc đến hoặc chạm vào Xuân là tâm tình con người trở nên khác từ cảm giác cho đến đời sống thực. Có phải đó là vì ảo giác hoặc trí tưởng tượng chẳng? Không, đấy chính là tín hiệu của tình thương yêu và niềm hạnh phúc để loài người và vạn vật tiếp xúc với ánh thiều quang, là sự ấm áp, mới mẻ và thăng hoa cuộc sống.
Bởi khi đã kinh qua một mùa đông giá rét thì niềm ấm áp nhẹ nhàng để quân bình đời sống là một sự cần thiết; và tự nó sẽ nói lên điều gì đó mà ngôn ngữ của loài người không thể biểu cảm. Đặc biệt hơn là ánh sáng của Xuân trong đạo, nhất là với Đạo Phật thì càng mang ý nghĩa thiêng liêng mầu nhiệm hơn. Ở đó không chỉ để cảm nhận mà, con người có thể tiếp xúc và sống với một cách rất thực đầy năng lượng của niềm tin yêu hạnh phúc.
Từ đâu để có được năng lượng dạt dào của Xuân?
Khi thực tế cảnh vật ta chứng kiến, phần nhiều cây cối đứng trơ xương trước thế phải chịu đựng cho một quãng thời gian dài đằng đẵng của mùa đông, gọi là “ngủ đông.” Cái ngủ đông kiểu vô gia cư với màn trời chiếu đất ấy, nếu câu nói ví von của ai đó rằng, “Một phút đợi chờ dài tựa thiên thu.” Thì, tâm trạng của kẻ “đợi chờ” cả mùa đông trong cái lạnh cóng trên nó dài đến dường nào ?!…
Không, cách tư duy và cách thấy trong Đạo Phật không phải vậy. Nếu cội cây không trải qua những tháng ngày trơ xương dưới những đợt giá băng đầy tuyết
phủ, thì làm gì có những nụ hoa như những nụ anh đào tinh khôi đầy cuốn hút đến thế?! Cũng vậy, con người không trải nghiệm những thử thách gian nan, những rèn luyện ẩn nhẫn hầu chuyển hoá chúng thành lạc quan và thú vị thì, khó có thể trưởng thành cho một sự kiên nhẫn và vươn lên để thăng hoa cuộc sống với những đức tính bằng tâm nhẫn nhục và chí khí cao vời?…
“Trang đạo học tính dày sâu chí lớn
Sống vươn lên cách trỗi dậy loài cây
Hùng khí tiết vượt từng cơn đè nặng
Khiến toát lên thần thái vẻ vui tươi
…..
Và làm sao trên đời có được “Hương của người đức hạnh ngược gió về muôn phương”?…
Cách thẳng đứng lối nghiêm trì giới đức
Mãi thăng hoa vượt thoát, tụ tam luân
Đường Bát Chánh về xa nơi vô cực
Vào thênh thang nẻo đạo một trời không.” (Tiết Tấu Loài Cây, Tuệ Minh)
Viết đến đây người viết nhớ lại câu chuyện về “Milarepa con người siêu việt”, vị Tổ Thiền Tông Tây Tạng. Thời thơ ấu, ông đã trải nghiệm về quãng đời thật vô cùng đau thương nghiệt ngã. Cha Mẹ bị các cô chú trong gia đình giết để chiếm đoạt tài sản, họ nuôi ông và cô em gái của ông chỉ vì hòng hốt trọn gia tài kích xù của gia đình ông bằng một sự ngược đãi cả hai anh em. Khi bị dồn vào đường cùng, ông đã tìm lối thoát và vùng dậy bằng phương án “trả thù.” Ông qua Ấn Độ học phép thuật thôi miên và về giết hết những người trong họ hàng. Xong việc trả thù ông mới nhận ra rằng, tận lương tâm của chính mình cũng tàn ác đâu khác những người từng giết hại cha mẹ và làm hại đến gia đình mình(?!..)
Nhân đâu quả đó, khi ông tỉnh ngộ cũng đã muộn màng. Tuy nhiên, muộn mà biết sửa đổi thì hạt giống của xuân tươi vẫn ẩn tàng đâu đó dưới tàng thức, đúng với câu, “buông đao sẽ thành Phật,” là thế. Ông buông bỏ hết và lên đường tìm thầy học đạo.
Ông cầu đạo với một vị lạt ma trong phái lập gia đình, nghĩa là vị thầy có vợ và có con. Thầy ông thấu rõ suốt căn cơ và nghiệp quả của ông nên, cả học chúng đông như thế mà thầy đày đoạ chỉ một mình ông đến rách da tróc xương. Trước giờ thầy viên tịch, gọi ông lại và khuyên bảo ông, “Đã đến lúc con hãy nên rời chúng để vào rừng tịnh cư và thực hành các pháp thiền quán.” Sáu năm ròng rã ăn sương uống tuyết nơi hoang dã, cuối cùng ông cũng chứng đạo, và trở thành vị Tổ khai sáng Thiền Tông Kim Cương của Tây Tạng.
Xuân là thế, những hạt Xuân cũng được ủ mầm từ nơi đông lạnh, trong đó Pháp Phật là ánh sáng mặt trời sẽ khởi sắc cho những bông hoa mầu nhiệm. Thế nên, ta thử lắng nghe Bố Đại Hòa Thượng nói gì về công dụng của Pháp và điều tích cực của sự sống Pháp ra sao ?!…
Một Hòa Thượng có cái bụng to vác chiếc bị lớn trên vai, đi đây đó khắp nơi và hành trạng của ông cũng khác thường, nên người đời gọi ông là Hoà Thượng Bố Đại (Ông thầy có chiếc bị to). Có người hỏi, “Phật Pháp là gì?” Ông bỏ chiếc bị xuống. Người ta lại hỏi, “Phật Pháp có gì hay nữa không?” Ông lại vác chiếc bị lên và bước đi. Nếu người không biết hành trì Phật Pháp ắt chẳng hiểu mô tê về hành động lạ lẫm như thế, nhưng, với người có chút công phu hành trì thì người ta nhận ra ngay: Phật Pháp có công năng giúp cho hành giả biết buông xuống. Vậy buông cái gì trong đấy? Là buông bỏ những cố chấp, những thói hư tật xấu mà rời xa ba con đường đen tối khổ đau. Và luôn đặt lên vai một trách nhiệm biết gánh vác mà vẫn thong dong thẳng bước. Cũng thế, con người biết buông bỏ cũng như loài cây thay lá, lá rụng xuống sẽ bón cho gốc cành tốt tươi và lại đơm chồi kết nụ cho một mùa Xuân tươi sáng ngày mai.
Ta cùng bạn, cũng hãy nên hướng về phía trước, ánh sáng thiều quang của tứ vô lượng tâm là Từ Bi Hỷ Xả, ấy chính là mùa Xuân Di Lặc thường hằng, nếu ta biết phấn đấu, biết chuyển hóa và vươn lên… thì, trong ta sẽ hiện hữu và tồn tại một mùa Xuân miên viễn, không ai có thể cướp đi như Bố Đại Hoà Thượng đã nói:
“Ngô hữu nhất Thế Tôn
Thế gian giai bất thức
Bất tố diệc bất trang
Bất điêu diệc bất khắc
Vô nhất khối nê thổ
Vô nhất điểm thái sắc
Công họa họa bất thành
Tặc thâu thâu bất khứ
Thể tướng bản tự nhiên
Thanh tịnh thường hảo khiết
Tuy nhiên thị nhất Tôn
Phân thân thiên bách ức.”
Dịch nghĩa:
Trong ta một Đức Phật
Người đời không ai hay
Không đúc, chẳng trưng bày
Không điêu, chẳng thể khắc
Đất nắn, nắn không xong
Không cần tô màu sắc
Thợ vẽ, vẽ không thành
Giặc cướp, cướp chẳng mất
Thể tướng vốn tự nhiên
Thanh tịnh và sáng trong
Dù chỉ là một Phật
Hoá hiện nghìn muôn thân.
Tuệ Minh-Thích Phước Toàn
Xuân Bính Ngọ, 2026
(Trích Bản Tin Xuân Bính Ngọ-2026, Hội Phật Tử An Bằng Hải Ngoại, trang 12- 13)

